Trọng Sinh: Người Quản Lý Hồ Sơ Tội Phạm - Chương 255: Kết Thúc - Ứng Toàn Cơ (Tiếp theo)
Cập nhật lúc: 2025-12-25 01:59:37
Lượt xem: 13
Mời Quý độc giả CLICK vào liên kết hoặc ảnh bên dưới
mở ứng dụng Shopee để tiếp tục đọc toàn bộ chương truyện!
https://s.shopee.vn/7Kqr15rlpV
MonkeyD và đội ngũ Editor xin chân thành cảm ơn!
Khoảnh khắc , bà như thấy chính của 20 năm .
Một học giả trẻ tuổi mang trong lý tưởng lớn lao, gian nan độc hành giữa vùng sa mạc hoang vu của ngành tâm lý học tội phạm trong nước.
Ứng Toàn Cơ sinh năm 1950, một năm khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập. Cha bà là một trí thức từng trải qua chiến tranh, dạy học tại một trường trung học; bà là cán bộ khu phố. Thời thơ ấu, những cuốn sách cũ kỹ như “Cơ sở xã hội học”, “Tâm lý học giáo d.ụ.c” giá sách trong phòng việc của cha chính là nguồn tri thức vỡ lòng sớm nhất của bà.
Mùa hè năm 1960, cô bé Ứng Toàn Cơ mười tuổi tận mắt chứng kiến một cảnh tượng đổi cả cuộc đời .
Cậu thiếu niên nhà hàng xóm cảnh sát giải vì tội trộm cắp nhiều .
Nhà hàng xóm trồng vài cây ăn quả, thiếu niên thường xuyên mang trái cây sang cho Ứng Toàn Cơ. Cậu từng vỗ n.g.ự.c với cô bé: “Sau sẽ trở thành nhà khoa học nông nghiệp, trồng táo vị chuối, nho hương hoa quế...”
, cha sa đà c.ờ b.ạ.c, nợ nần chồng chất đến mức đ.á.n.h gãy một chân, ngày ngày say xỉn và trút giận lên vợ con. Mẹ là phụ nữ nhu nhược, gặp chuyện chỉ lóc, nhẫn nhịn. Lớn lên trong một gia đình như , thiếu niên dần sinh lòng phản nghịch, giao du với đám côn đồ và bắt đầu trộm cắp.
Ngày giải , bệt xuống đất, tiếng gào xuyên thấu màn mưa: “Tại ! Tại dạy dỗ nó đàng hoàng... cũng là đầu tiên , ai dạy cách đây?”
Cảnh tượng in sâu tâm trí non nớt của Ứng Toàn Cơ.
Năm 1968, Ứng Toàn Cơ 18 tuổi, tham gia phong trào “thanh niên trí thức” về nông thôn. Tại vùng quê Thiểm Bắc, bà giáo viên dạy ở trường tiểu học thôn. Nơi đó nhiều trẻ em bỏ , thiếu sự quản giáo của cha . Bà tận mắt chứng kiến một bé vốn thông minh, lanh lợi, vì dẫn dắt, từ việc trộm khoai lang ngoài đồng dần phát triển thành trộm cắp vật tư của đội sản xuất, cuối cùng đưa cải tạo lao động. Bà nội bé nắm tay Ứng Toàn Cơ, nước mắt giàn giụa: “Cô giáo Ứng ơi, thằng bé vốn là mầm non , mọc lệch thế ...”
Câu hỏi khiến bà bắt đầu suy tư: Đâu là nguồn gốc của tội phạm thanh thiếu niên?
Năm 1973, nhờ biểu hiện xuất sắc, bà đề cử học tại Khoa Giáo d.ụ.c Học viện Sư phạm Bắc Kinh. Tại thư viện trường đại học, đầu tiên bà tiếp xúc một cách hệ thống với các tác phẩm về tội phạm học và tâm lý học.
Năm 1977, khi nghiệp và phân công công tác, nhiều cơ quan đơn vị trải t.h.ả.m đỏ chào đón bà, nhưng bà đưa một quyết định khiến kinh ngạc —— xin trợ giảng bộ môn Tội phạm học tại Trường Cán bộ Chính pháp Hoa Hạ ( là Đại học Công an Hoa Hạ) mới phục hồi.
Đối mặt với sự khó hiểu của , Ứng Toàn Cơ trả lời: “ nghiên cứu tại con phạm tội, và quan trọng hơn là, thế nào để họ phạm tội.”
Mười năm đầu tiên là mười năm khởi nghiệp gian nan. Tài liệu thiếu thốn, hệ thống thiện, tâm lý học tội phạm trong hệ thống công an còn coi là “lý thuyết suông” khó áp dụng thực chiến.
Chủ nhiệm bộ môn già với bà: “Tiểu Ứng , tâm lý học tội phạm là ngành kén , khi mười năm cũng chẳng thành quả gì .” bà vẫn kiên định với ý nghĩa của nghiên cứu .
Suốt thập niên 80, bà như một “khổ hạnh tăng” con đường học thuật. Bà tận dụng cơ hội tham gia khảo sát thực tế, dấu chân in khắp các đơn vị công an và trại giáo dưỡng cả nước, tích lũy hàng ngàn ghi chép phân tích án lệ.
Mùa hè năm 1982, tại một trại giáo dưỡng, bà gặp một thiếu niên khiến bà nhớ mãi quên - Trịnh Tiểu Minh. Trịnh Tiểu Minh phạt cải tạo lao động vì tội cướp giật nhiều . qua trò chuyện, Ứng Toàn Cơ phát hiện bản chất bé , chỉ vì cha ly hôn, thiếu sự quan tâm yêu thương mà sa ngã.
Trịnh Tiểu Minh cúi đầu : “Chị ơi, chị ? Lần đầu tiên em trộm đồ là vì tiền mua vở bài tập, cô giáo mắng. Sau em phát hiện trộm đồ chỉ thứ mà còn khiến bố chú ý đến em.”
Ứng Toàn Cơ bắt đầu nhận , đằng nhiều tội phạm thanh thiếu niên đều ẩn chứa khát khao yêu thương và công nhận. Năm 1985, bà công bố luận văn mang tính nền tảng “Nghiên cứu nguồn gốc tâm lý tội phạm thanh thiếu niên và can thiệp sớm”, đầu tiên đề xuất mô hình phòng ngừa ba cấp độ “Gia đình - Nhà trường - Cộng đồng”.
Luận văn gây tranh cãi lớn thời điểm đó. Tại một hội nghị công tác công an quốc, một cảnh sát hình sự lão luyện thẳng thắn : “Giáo sư Ứng, lý thuyết của bà thì đấy, nhưng tuyến đầu chúng cần con d.a.o sắc để bắt nhanh ch.óng, chứ cây kim thêu hoa.”
Đối mặt với sự nghi ngờ, bà tranh biện.
Bước ngoặt đến năm 1989. Một thành phố ở Hoa Đông xảy chuỗi vụ án tống tiền học sinh trung tiểu học, điều tra mãi phá . Thông qua phân tích thủ đoạn gây án, lựa chọn mục tiêu và quy luật thời gian, Ứng Toàn Cơ phác họa chân dung nghi phạm: nam giới, 25-30 tuổi, từng thất bại trong công việc giáo d.ụ.c, thể nảy sinh tâm lý trả thù do sa thải. Cảnh sát điều chỉnh hướng điều tra theo đó và nhanh ch.óng bắt một cựu giáo viên dạy 28 tuổi.
Sau khi phá án, vị cảnh sát lão luyện từng nghi ngờ bà gọi điện thoại riêng: “Giáo sư Ứng, cây ‘kim thêu hoa’ của bà thực sự thêu nên chuyện !”
Ứng Toàn Cơ càng nỗ lực thâm nhập thực tiễn hơn.
Năm 1990, bà chủ động xin xuống rèn luyện một năm tại đồn công an cơ sở. Ban ngày tham gia công tác cảnh vụ, ban đêm nghiên cứu án lệ. Bà phát hiện nhiều cảnh sát cơ sở thiếu kiến thức tâm lý học chuyên nghiệp khi xử lý các vụ án thanh thiếu niên, thường áp dụng các phương pháp đơn giản, thô bạo.
Năm 1992, cuốn sách “Ứng dụng tâm lý học tội phạm trong công tác cảnh vụ” do bà chủ biên xuất bản. Đây là giáo trình tâm lý học thực chiến đầu tiên trong nước dành cho ngành công an. Sách chỉ giới thiệu lý thuyết mà còn cung cấp lượng lớn án lệ thực tế và kiến nghị xử lý.
Cuốn sách nhanh ch.óng lan truyền trong hệ thống công an quốc, Ứng Toàn Cơ bắt đầu nhiều đến và công nhận.
Năm 1993, một vụ án phóng hỏa liên ở Hà Bắc lâm bế tắc. Cảnh sát địa phương điều tra nhiều tháng kết quả, bèn mời Ứng Toàn Cơ hỗ trợ. Thông qua phân tích địa điểm, thời gian và phương thức phóng hỏa, bà phác họa đặc điểm tâm lý nghi phạm: 16-18 tuổi, gia đình vấn đề bạo lực giao tiếp nghiêm trọng, thể nảy sinh tâm lý trả thù do học hành sa sút. Cảnh sát thu hẹp phạm vi rà soát và bắt một học sinh trường nghề 17 tuổi.
Đội trưởng đội hình sự địa phương nắm tay bà : “Giáo sư Ứng, bức phác họa tâm lý của bà giúp chúng tiết kiệm lượng lớn tài nguyên cảnh lực!” Thành công khiến Ứng Toàn Cơ càng thêm tin tưởng: Tâm lý học tội phạm chỉ tác dụng trong phá án, mà quan trọng hơn là thể giúp phòng ngừa tội phạm.
[Truyện được đăng tải duy nhất tại MonkeyD.net.vn - https://monkeydtruyen.com/trong-sinh-nguoi-quan-ly-ho-so-toi-pham/chuong-255-ket-thuc-ung-toan-co-tiep-theo.html.]
Thư Sách
Năm 1995, bà xuất bản chuyên khảo “Tâm lý tội phạm và can thiệp sớm”, đề xuất hệ thống phòng ngừa ba cấp độ “Gia đình - Nhà trường - Cộng đồng”. Bà trong sách: “Trừng phạt tội phạm giống như dập lửa, còn phòng ngừa tội phạm mới là trị tận gốc mầm hỏa hoạn. mầm hỏa hoạn ở ? Ở gia đình, ở nhà trường, ở sâu trong những nếp gấp của xã hội.”
Chính mùa xuân năm chuyên khảo xuất bản, Ứng Toàn Cơ gặp Khương Lăng trong kỳ thi vấn đáp nghiên cứu sinh.
Khi nữ cảnh sát trẻ : “Em bắt đầu từ việc xây dựng mô hình nhận diện hành vi tâm lý sớm và can thiệp phân cấp đối với thanh thiếu niên nguy cơ cao”, Ứng Toàn Cơ như thấy chính thời trẻ.
Bà vui mừng khi nhận học trò , bà tin Khương Lăng thể chuyển hóa lý thuyết thành thực tiễn.
Trong ba năm tiếp theo, Ứng Toàn Cơ dốc túi truyền thụ. Bà chỉ dạy kiến thức chuyên môn mà còn chú trọng bồi dưỡng tư duy hệ thống và năng lực thực tiễn cho Khương Lăng. Bà thường xuyên đưa Khương Lăng tham gia phân tích các vụ án thực tế, như vụ án công viên Bạch Tháp thành phố Thanh Nguyên năm 1996.
Lúc đó, Cục Công an thành phố Thanh Nguyên mời Ứng Toàn Cơ hỗ trợ, bà đặc biệt đưa Khương Lăng cùng.
Tại hiện trường, Khương Lăng nhạy bén chú ý đến những hình vẽ nguệch ngoạc ấu trĩ và độ cao vết sơn xịt khá thấp, đưa phán đoán hung thủ thể là thanh thiếu niên. Phán đoán trùng khớp với suy nghĩ của Ứng Toàn Cơ, và điều tra đó chứng thực giả thuyết của họ.
điều Ứng Toàn Cơ coi trọng hơn là giá trị phòng ngừa vụ án. Sau khi phá án, bà hướng dẫn Khương Lăng thực hiện đ.á.n.h giá tâm lý chuyên sâu và phân tích cảnh gia đình đối với 5 thiếu niên liên quan, thành bản “Báo cáo đ.á.n.h giá rủi ro tội phạm cá nhân” chi tiết. Báo cáo chỉ phân tích nguyên nhân phạm tội của từng mà còn đưa kiến nghị can thiệp cụ thể.
“Thưa cô, tại chúng tốn nhiều thời gian những việc ?” Khương Lăng từng hỏi.
Ứng Toàn Cơ trả lời: “Bởi vì phá án chỉ thể giải quyết vấn đề của quá khứ, phòng ngừa mới thể tránh bi kịch trong tương lai. Phá án là trị ngọn, phòng ngừa tội phạm mới là trị gốc. Những gì chúng đang là tích lũy kinh nghiệm và dữ liệu cho công tác phòng ngừa tội phạm.”
Năm 1998, Khương Lăng nghiệp thạc sĩ và quyết định trở về Yến Thành công tác. Rất nhiều cảm thấy tiếc nuối —— với bằng cấp và năng lực của Khương Lăng, cô thể ở các trường đại học hoặc cơ quan nghiên cứu tại Bắc Kinh.
Ứng Toàn Cơ hiểu và ủng hộ quyết định của học trò.
Trước khi chia tay, bà dành cho Khương Lăng lời chúc phúc, sự kỳ vọng và khích lệ: “Phòng ngừa tội phạm cần bắt đầu từ cơ sở. Yến Thành tuy nhỏ, nhưng chính vì thế càng dễ triển khai công tác thí điểm. Thành tích em ở đó sẽ thuyết phục hơn nhiều so với việc luận văn ở Bắc Kinh. Chân lý cần kiểm nghiệm qua thực tiễn. Em , cô sẽ là hậu phương của em.”
Thực tế chứng minh phán đoán của Ứng Toàn Cơ là chính xác.
Trở về Yến Thành, Khương Lăng bắt đầu trù tính xây dựng Trung tâm Dữ liệu tại Cục Công an thành phố, thử nghiệm tích hợp thông tin hộ khẩu, học bạ, hồ sơ cộng đồng... để thiết lập mô hình cảnh báo sớm rủi ro tội phạm. Ứng Toàn Cơ tuy ở xa nhưng luôn quan tâm đến tiến triển của học trò, thường xuyên chỉ đạo qua điện thoại và thư từ.
Năm 2000, khi Sở Công an tỉnh Tương trù thành lập “Trung tâm Phân tích Phòng ngừa Tội phạm”, Ứng Toàn Cơ chút do dự đề cử Khương Lăng.
Tại hội nghị luận chứng chuyên gia, nghi ngờ Khương Lăng quá trẻ, thiếu kinh nghiệm công tác cấp tỉnh. Ứng Toàn Cơ dùng lý lẽ để thuyết phục: “Đồng chí Khương Lăng nền tảng lý luận vững chắc, kinh nghiệm cơ sở phong phú và những trường hợp thực tiễn thành công. Mô hình cảnh báo tội phạm cô thiết lập tại Yến Thành giúp giảm tỷ lệ tội phạm thanh thiếu niên địa phương xuống 18%. Những con là minh chứng nhất.”
Cuối cùng, Khương Lăng bổ nhiệm Tổ trưởng tổ trù trung tâm. Ứng Toàn Cơ đích khởi thảo phương án xây dựng trung tâm cho cô, nhấn mạnh triết lý “Dữ liệu dẫn dắt, đa phương liên động”, chú trọng thiết lập cơ sở dữ liệu rủi ro tội phạm thống nhất tỉnh, tích hợp thông tin đa ngành; phát triển công cụ đ.á.n.h giá rủi ro khoa học để cảnh báo sớm; đồng thời thiết lập cơ chế can thiệp liên động giữa gia đình, nhà trường, cộng đồng và công an; cung cấp dữ liệu hỗ trợ và tham khảo quyết sách cho việc hoạch định chính sách.
Những năm đó, hai thầy trò một mày mò thí điểm ở cơ sở, một kêu gọi khởi xướng ở giới học thuật. Năm 2003, họ hợp tác công bố luận văn “Xây dựng mô hình cảnh báo sớm rủi ro tội phạm dựa khai thác dữ liệu - Lấy Yến Thành ví dụ”, đạt giải thưởng Tiến bộ Khoa học Kỹ thuật của Bộ Công an.
Ứng Toàn Cơ và Khương Lăng cùng nỗ lực, từng bước tinh chỉnh kinh nghiệm thí điểm tại Yến Thành thành mô hình thể nhân rộng. Mô hình đó gọi là “Kinh nghiệm Tương Tỉnh”, trở thành bản mẫu cho việc xây dựng hệ thống phòng ngừa tội phạm cả nước.
Với sự thành lập của Trung tâm Phân tích Phòng ngừa Tội phạm, triết lý phòng ngừa tội phạm của Ứng Toàn Cơ bắt đầu chuyển từ nghiên cứu học thuật sang thực tiễn thể chế. bà , đây chỉ là khởi đầu. Thách thức thực sự ở việc thế nào để hệ thống vận hành bền vững và ngừng mở rộng ảnh hưởng.
Bà cùng Khương Lăng thiết kế cơ chế cảnh báo sớm tội phạm thanh thiếu niên ba cấp độ cho trung tâm:
* Phòng ngừa phổ quát: Hướng tới tất cả thanh thiếu niên qua giáo d.ụ.c pháp luật và dịch vụ sức khỏe tâm lý.
* Can thiệp trọng điểm: Cung cấp hỗ trợ cá nhân hóa cho thanh thiếu niên yếu tố nguy cơ.
* Chỉnh sửa đặc biệt: Tiến hành chỉnh sửa chuyên nghiệp đối với thanh thiếu niên hành vi lệch lạc.
Đồng thời, bà thúc đẩy thiết lập cơ chế hợp tác đa ngành: Công an cung cấp dữ liệu hỗ trợ, Giáo d.ụ.c phụ trách can thiệp tại trường học, Dân chính hỗ trợ gia đình, các tổ chức cộng đồng tham gia quan tâm hàng ngày. Mô hình hợp tác liên ngành mang tính sáng tạo thời điểm đó nhưng cũng gặp nhiều thách thức.
Thách thức lớn nhất đến từ việc đổi quan niệm.
Nhiều cảnh sát cơ sở vẫn quen với tư duy “bắt phá án”, coi trọng công tác phòng ngừa. Để giải quyết vấn đề , Ứng Toàn Cơ tự thiết kế giáo trình tập huấn, khắp nơi tuyên truyền giảng giải về lý niệm và phương pháp phòng ngừa tội phạm.
Bà thường : “Chúng bắt một tên tội phạm, chỉ là giải quyết một vấn đề; nhưng chúng phòng ngừa một vụ án, thể cứu vớt một con , một gia đình. Xét về hiệu quả đầu tư, phòng ngừa giá trị hơn trừng phạt nhiều.”
Dần dần, ngày càng nhiều bắt đầu chấp nhận quan niệm .
Một cảnh sát hình sự lão luyện từng nghi ngờ bà, khi tận mắt thấy hiệu quả của công tác phòng ngừa, cũng đổi thái độ. Một vị Cục trưởng Cục Công an thành phố từng : “Trước đây nghĩ phòng ngừa là nhiệm vụ ‘mềm’, giờ mới đây là kế sách căn bản. Giáo sư Ứng, cảm ơn bà nhiều.”